Tổng luận về «Địa chí Quảng Ngãi»
Để làm nền cho một cái nhìn toàn cảnh về "Địa chí Quảng Ngãi", hãy nói một chút về khái niệm địa chí, các loại địa chí và lịch sử địa chí Việt Nam.
NGHĨA CHỮ "ĐỊA CHÍ"
"Địa chí" là gì? Xét theo nghĩa gốc thì "địa" (地) là địa, "chí" (志 ,誌) là ghi chép; "địa chí" là ghi chép về địa. Nhưng thế nào là "địa"? Trong tiếng Việt, "địa" và "thổ" (土) thường được dịch chung là đất. Điều này làm lu mờ sự khác nhau về ngữ nghĩa của chúng. Trong tiếng Hán, nếu "thổ" chỉ có mỗi một cách viết là 土, phác họa hình một đống đất được tuyến hóa, thì "địa" lại có đến 6 ký tự là , , , , và 地. Ngoại trừ "地", dạng cuối cùng của chữ "địa" được cấu tạo theo kiểu hình thanh, các trường hợp còn lại đều cấu tạo theo kiểu hội ý: " " gồm sơn (núi) + thủy (nước) + thổ (đất); " " gồm phụ (gò) + thỉ (lợn) + thổ (đất); " " gồm phụ (gò) + phương (bang, quốc) + thổ (đất); " " gồm nhân (người) + lưỡng thỉ (hai con lợn, viết bớt nét) + thổ (đất); " " gồm sơn (núi) + thỉ (lợn) + lưỡng thổ (hai đống đất). Có thể thấy trong quan niệm người xưa, "địa" không chỉ là đất, mà còn bao gồm cả nhiều thứ liên quan đến đất như núi, nước, gò, lợn, bang quốc, con người... Những thành tố tạo nên chữ "địa" ở đây phần lớn mang tính biểu trưng. Thí dụ "thỉ" (lợn) đại diện cho gia súc, kể cả các loài động vật tồn tại trên quả đất nói chung. "Nhân" (người) đại diện cho dân cư, chủng tộc. Chính bởi các lẽ trên mà trong một số cuốn từ điển, "địa chí" được định nghĩa là "sách viết về địa dư; phàm là phương vực, sơn xuyên, phong tục, sản vật đều được ghi chép" (Từ nguyên); hay "sách miêu thuật tường tận về địa hình, khí hậu, dân cư, chính trị, sản vật, văn hóa của một nước hay một vùng miền" (Từ hải).
CÁC LOẠI "ĐỊA CHÍ"
Địa chí (về sau phát triển thành khoa học địa lý hay địa lý học, cách trình bày tuy ít nhiều có khác, nhưng về tính chất thì cơ bản vẫn thống nhất với nhau, vì vậy có thể gọi chung là địa chí) bao gồm nhiều loại:
Nếu lấy không gian làm tiêu chí để phân biệt, ta có địa chí thế giới, địa chí châu lục, địa chí khu vực, địa chí quốc gia. Trong phạm vi địa chí quốc gia, lại có thể chia thành địa chí toàn quốc (nhất thống chí) và địa chí địa phương (địa phương chí). Trong địa chí địa phương lại còn có thể chia thành những đơn vị không gian nhỏ hơn nữa như: địa chí một tỉnh (tỉnh chí), địa chí một huyện (huyện chí), địa chí một xã (xã chí), vv.
Nếu lấy thời gian làm tiêu chí để phân biệt, ta có địa chí cổ đại, địa chí trung đại và địa chí hiện đại. Địa chí cổ đại chủ yếu tìm hiểu về vị trí, hình dạng, kích cỡ và cách thức miêu thuật các yếu tố địa lý. Địa chí trung đại (cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX) đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố địa lý. Còn địa chí hiện đại thì từ chỗ miêu thuật định tính theo trạng thái tĩnh vươn tới phân tích định lượng theo trạng thái động, không ngoài mục đích trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố địa lý, từng bước lý giải và tạo lập sự hòa hợp giữa con người và môi trường. Bởi vì vấn đề đang đặt lên hàng "nghị trình" không phải là con người kiểm soát thiên nhiên, mà là thiên nhiên kiểm soát con người, con người phải biết cách "ăn ở" với thiên nhiên và mong được thiên nhiên "phù hộ"!
Nếu lấy đối tượng khảo sát làm tiêu chí, ta có địa chí tự nhiên và địa chí nhân văn. Địa chí tự nhiên nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc của môi trường địa lý, cùng sự hình thành và diễn biến của các vùng hay tiểu vùng địa lý khác nhau. Địa chí nhân văn, dựa vào lý thuyết tương quan giữa con người và địa bàn cư trú, tìm hiểu sự phân bố, thay đổi của các hiện tượng nhân văn, cùng ảnh hưởng của chúng đối với hoạt động xã hội của con người. Có thể chia địa chí nhân văn ra làm nhiều mảng để tiếp cận như địa chí kinh tế, địa chí chính trị, địa chí dân cư, địa chí văn hóa xã hội, vv.
LƯỢC SỬ ĐỊA CHÍ VIỆT NAM
Trên thế giới, lịch sử địa chí được bắt đầu từ rất sớm. Ở phương Đông, môn "địa lý" đã thấy nói tới trong Kinh Dịch: "Ngước lên để xem thiên văn, cúi xuống để xét địa lý" (Hệ từ thượng). Tác phẩm địa chí cổ nhất Trung Quốc là thiên Vũ cống trong sách Thượng Thư được biên soạn vào thời Chiến quốc (475 - 221 trước Công nguyên), và muộn hơn một chút là cuốn Sơn hải kinh. Ở phương Tây, người đầu tiên dùng từ "địa lý học" là nhà địa lý cổ đại Hy Lạp Êratôxtênêt (Eratosthenês) sống vào khoảng cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ II trước Công nguyên.
Ở Việt Nam, tuy là nước "đất không rộng, người không đông", chúng ta cũng có một lịch sử địa chí đáng ghi nhận. Về địa chí toàn quốc, có các tác phẩm đáng chú ý như Nam Bắc phiên giới địa đồ (1172) hiện đã mất, chưa rõ tác giả; An Nam chí lược (1339) của Lê Trắc; Địa dư chí (1435) của Nguyễn Trãi; Thiên hạ bản đồ (1490) đời Lê Thánh Tông; Kiền khôn nhất lãm (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) của Phạm Đình Hổ, có chép cả địa lý một số nước trong khu vực; Hoàng Việt nhất thống địa dư chí (1806) của Lê Quang Định; Thiên tải nhàn đàm (1810) của Đàm Nghĩa Am; Hoàng Việt địa dư chí (1833) của Phan Huy Chú; Đại Việt địa dư toàn biên (1882) của Nguyễn Văn Siêu; Đại Nam nhất thống chí (1882) của Quốc Sử quán triều Nguyễn; Đồng Khánh địa dư chí (1886 - 1888), gồm địa lý 25 tỉnh từ Cao Bằng đến Bình Thuận (không có các tỉnh vùng Nam Bộ vì hồi này, Nam Bộ đang đặt dưới quyền trực tiếp cai trị của thực dân Pháp), vv.
Về địa chí vùng miền, có thể kể các sách Ô Châu cận lục (1555) của Dương Văn An; Hải Đông chí lược (1772) của Ngô Thì Nhậm; Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn; Hưng Hóa xứ phong thổ lục (1778) của Hoàng Bình Chính; Cao Bằng lục (thế kỷ XVIII) của Phan Trọng Phiên; Gia Định thành thông chí (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) của Trịnh Hoài Đức; Cao Bằng thực lục (1810) của Nguyễn Hựu Cung; Nghệ An ký (đầu thế kỷ XIX) của Bùi Dương Lịch; Bắc Thành địa dư chí lục (1845) của Lê Chất; Hưng Hóa ký lược (1856) của Phạm Thận Duật; Cao Bằng tạp chí (1920) của Bế Huỳnh, vv.
Để có một ý niệm nào đó về các nội dung thường được đề cập trong một tác phẩm địa chí thời trước, ta có thể dẫn ra đây ba trường hợp tương đối tiêu biểu là bộ Đại Nam nhất thống chí do Quốc Sử quán triều Nguyễn chủ trì, cuốn Nghệ An ký do Bùi Dương Lịch biên soạn, và cuốn Cao Bằng tạp chí do Bế Huỳnh phác thảo.
Đại Nam nhất thống chí thuộc loại sách viết về địa lý của một nước, đây là địa lý Việt Nam, gồm 12 tập, 28 quyển. Sách chép riêng từng tỉnh hoặc thành phố theo kiểu Nhất thống chí của nhà Thanh. Cụ thể là: Tập 1 viết về Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hóa; Tập 2 viết về Hà Nội, Bắc Ninh; Tập 3 viết về Hưng Yên, Ninh Bình; Tập 4 viết về Hải Dương, Quảng Yên; Tập 5 viết về Tuyên Quang, Thái Nguyên, Sơn Tây; Tập 6 viết về Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Tập 7 viết về Quảng Bình, Quảng Trị; Tập 8 viết về Thừa Thiên; Tập 9 viết về Kinh sư (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi; Tập 10 viết về Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Cao Miên; Tập 11 viết về Gia Định, Định Tường, Hà Tiên; Tập 12 viết về An Giang, Vĩnh Long, Biên Hòa. Có một dị bản còn chép cả Xiêm La, Thủy Xá, Hỏa Xá, Miến Điện, Nam Chưởng và Vạn Tượng.
Mỗi tỉnh hoặc thành phố được lần lượt trình bày theo các mục sau đây: 1) Phận dã (vị trí vùng trời, lấy các ngôi sao ổn định làm mốc); 2) Kiến trí diên cách (quá trình lập tỉnh và những thay đổi về địa bàn tỉnh nếu có); 3) Hình thế (tọa độ và địa hình); 4) Khí hậu (thời tiết, lượng mưa, nhiệt độ); 5) Phong tục (thói quen, tục lệ); 6) Thành trì (thành và hào, có bản đồ minh họa); 7) Học hiệu (trường học); 8) Hộ khẩu (số đinh); 9) Điền phú (thuế ruộng); 10) Sơn xuyên (núi sông); 11) Cổ tích (di tích lịch sử - văn hóa); 12) Quan tấn (cửa ải, đồn biển); 13) Thị tập (chợ búa); 14) Tân lương (bến sông, cầu đập); 15) Đê yển (đê điều); 16) Lăng mộ (mồ mả vua chúa); 17) Từ miếu (đền miếu); 18) Tự quán (chùa thờ Phật, quán Đạo giáo); 19) Nhân vật (người có tên tuổi trong lịch sử); 20) Liệt nữ (phụ nữ lừng danh); 21) Tiên thích (đạo sĩ, tăng lữ); 22) Thổ sản (sản vật địa phương); 23) Giang đạo (đường sông); 24) Tân độ (đò ngang, đò dọc).
Nghệ An ký thuộc loại sách viết về địa lý vùng miền, đây là tỉnh Nghệ An. Sách gồm 3 quyển, được sắp xếp theo trật tự "tam tài", tức "thiên, địa, nhân" hay "thiên văn, địa lý, nhân sự". Cụ thể là: Thiên chí (Quyển 1), gồm 2 mục: 1) Thiên dã (vị trí vùng trời, lấy sao làm điểm mốc); 2) Thiên khí (khí hậu). Địa chí (Quyển 2), gồm 4 mục: 1) Cương vực (bờ cõi và vấn đề diên cách); 2) Điều lý (mạch đất, vùng thấp, vùng cao); 3) Sơn (núi); 4) Thủy (sông ngòi, hồ, đầm, khơi). Nhân chí (Quyển 3), gồm 3 mục: 1) Khí chất (thể trọng, tính cách);2) Sinh lý (đời sống vật chất); 3) Nhân vật (người danh tiếng, trong đó có đế vương, văn nhân, võ tướng...).
Cao Bằng tạp chí cũng thuộc loại sách viết về địa lý vùng miền, đây là tỉnh Cao Bằng. Sách cũng gồm 3 quyển, nhưng lại được sắp xếp theo trật tự "tam quang", tức "nhật, nguyệt, tinh". Cụ thể là: Nhật (Quyển 1), gồm 4 mục: 1) Địa danh nguyên thủy dĩ cập canh trương (nguồn gốc địa danh và việc thay đổi qua các thời kỳ lịch sử); 2) Tỉnh hạt danh sơn (núi có tiếng trong tỉnh); 3) Tỉnh hạt đại xuyên (sông lớn trong tỉnh); 4) Tỉnh hạt danh nham (hang động có tiếng trong tỉnh). Nguyệt (Quyển 2), gồm 3 mục: 1) Tiền chiến kỷ (các trận đánh thời trước); 2) Bản triều chiến kỷ (các trận đánh vào triều Nguyễn); 3) Quý bảo hộ thời kỳ chiến kỷ (các trận đánh dưới thời Pháp thuộc). Tinh (Quyển 3), gồm 6 mục: 1) Thần từ cổ tích (đền thờ các vị thần); 2) Nhân vật lục (sự tích các nhân vật có tên tuổi trong lịch sử); 3) Dị đoan lục (các tục lệ mê tín dị đoan như phù thủy, đạo sư, đồng bóng); 4) Kỹ nghệ thổ sản (các nghề thủ công và sản vật địa phương); 5) Giải độc chỉ nam (cách cứu chữa người bị trúng độc); 6) Chủng loại nguyên nhân (nguồn gốc các dân tộc thiểu số như người Thổ, người Nùng, người Ngạn, người Mường Hạo, người Mán Tiền, người Mán Cóc, người Mèo Đăm cùng nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng, nhà ở, trang phục, cách ăn uống, cưới xin, ma chay, giao tiếp, tết nhất, mừng thọ, mừng sinh nhật, cúng giỗ, bệnh tật... của họ).
Tiếp sang thời Pháp thuộc và thời kỳ hiện đại, nhiều công trình địa chí các địa phương trong nước lần lượt được nghiên cứu, biên soạn. Điều đáng chú ý là đến nay, vẫn không có hình mẫu chung nào cho toàn bộ các công trình địa chí, bởi sự khác nhau về quan niệm và đặc thù riêng của từng địa phương.
Từ các kiến giải mang tính chất nền tảng trên đây, ta có thể đi vào những vấn đề bao quát của "Địa chí Quảng Ngãi".
NGUỒN TƯ LIỆU ĐỂ VIẾT "ĐỊA CHÍ QUẢNG NGÃI"
Tư liệu để viết "Địa chí Quảng Ngãi" gồm hai nguồn chính là nguồn tư liệu thành văn và nguồn tư liệu điền dã.
Nguồn tư liệu thành văn
Không đợi đến bây giờ, mà ngay từ những năm ba mươi của thế kỷ XX đã xuất hiện những công trình địa chí nghiêm túc dành riêng cho tỉnh Quảng Ngãi, như Quảng Ngãi tỉnh chí của Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Đình Chi đăng trên tạp chí Nam phong năm 1933; Địa dư tỉnh Quảng Ngãi của Nguyễn Đóa và Nguyễn Đạt Nhơn, Huế - 1939; Địa phương chí Quảng Ngãi do chính quyền Sài Gòn soạn thảo vào năm 1968, vv. Gần đây, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ngãi lại cho ra mắt bạn đọc cuốn Quảng Ngãi - đất nước, con người, văn hóa do Bùi Hồng Nhân chủ biên, Quảng Ngãi - 2001, cũng là một tác phẩm địa - văn hóa biên soạn công phu.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu hiểu biết về đồng đất - con người Quảng Ngãi một cách có hệ thống, với tầm độ vừa rộng lại vừa sâu, nhất là tình hình tỉnh Quảng Ngãi từ thế kỷ XIX trở về trước, cần có những nỗ lực mới theo hướng bổ sung, nâng cấp những gì đã biết về địa chí Quảng Ngãi. Muốn thế, phải có thêm tư liệu, nhất là loại tư liệu gốc, tức nguồn thông tin cấp I. Về phương diện này, ngoài những thông tin cập nhật do các ngành khảo cổ học, địa chất học, thủy văn học, dân tộc học… cung cấp, ta rất cần đến sự trợ giúp của kho sách Hán Nôm do cha ông để lại.
Có thể chia số thư tịch Hán Nôm liên quan đến việc biên soạn địa chí Quảng Ngãi mà chúng ta hiện biết ra làm ba loại chính sau đây:
Bản đồ (gồm địa đồ, lộ đồ, hải đồ và bản đồ tổng hợp)
Về địa đồ, có các sách liên quan đến Quảng Ngãi như: An Nam hình thắng đồ A.3034(*) (đời Lê); An Nam quốc Trung đô tính thập tam thừa tuyên hình thế A.2531 (đời Lê); Hồng Đức bản đồ VHt.41 và A.2499 (đời Lê); Càn khôn nhất lãm A.414 (đời Lê); Thiên hạ bản đồ A.2628 (đời Lê); Thiên hạ bản đồ tổng mục lục đại toàn A.1362 (đời Lê); Bản quốc dư địa đồ lược A.2584 (đời Nguyễn); Bản quốc dư đồ A.1106 (đời Nguyễn); Bản quốc dư đồ bị lãm A.2026 (đời Nguyễn); Đại Nam nhất thống dư đồ A.3142 (đời Nguyễn); Đại Nam toàn đồ A.2959 (đời Nguyễn); Địa đồ A.589 (đời Nguyễn); Nam Bắc Kỳ hội đồ A.95 (đời Nguyễn).
Về lộ đồ (bản đồ đường bộ) và hải đồ (bản đồ đường biển), có các sách liên quan đến Quảng Ngãi như: Thiên Nam lộ đồ A.1081 (đời Lê); Toàn tập Thiên Nam địa đồ A.1174 (đời Lê); Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư A.73 (đời Lê); An Nam thông quốc bản đồ VHv.1358.2 (đời Lê).
Riêng bản đồ tổng hợp (gồm cả địa đồ, lộ đồ, hải đồ), có Giao Châu dư địa chí VHt.30 (đời Lê) và Địa chí A.343 (đời Nguyễn).
Trong các bản đồ trên, vùng đất thuộc địa bàn Quảng Ngãi ngày nay thường xuất hiện dưới các tên gọi như "Chiêm Lũy", "Cổ Lũy" (động), "Tư" (châu) và "Nghĩa" (châu), "Tư Nghĩa" (phủ); "Quảng Nghĩa" hay "Quảng Ngãi" (phủ, dinh, trấn, tỉnh). Về mặt hành chính, vùng đất này lần lượt nằm dưới sự quản lý của các vua Hùng, tiếp đến là Chămpa (Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành), và cuối cùng là Việt Nam (Đại Việt).
Địa chí (gồm tỉnh chí, xã chí...)
Liên quan đến Quảng Ngãi ở cấp tỉnh, có các sách như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi trong bộ Ức Trai di tập VHv.1772.2,3 (đời Lê); Đại Việt sử ký toàn thư A.3.1-4 (đời Lê); Phủ biên tạp lục VHv.1737.1-2 (đời Lê); Đại Nam nhất thống chí A.69.1-12 (do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn vào thời Tự Đức; ở Tập 9 có chép về Quảng Ngãi); Đại Nam nhất thống chí A.853.1-8 (do Cao Xuân Dục làm Tổng tài, in năm 1910; ở Quyển 6 có chép về Quảng Ngãi); Đồng Khánh dư địa chí A.537.1-24 (do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn; ở Tập 16 có chép về Quảng Ngãi); Hoàn vũ kỷ văn A.585 (đời Nguyễn); Nam dư yếu lược A.1518 (đời Nguyễn); Nam quốc địa dư VHv.2742 (đời Nguyễn); Nam quốc dư địa chí lược VHv.1723 (đời Nguyễn); Nam Việt địa dư trích lục A.2139 (đời Nguyễn); Phủ man tạp lục VHv.1239 (đời Nguyễn); Quảng Thuận đạo sử tập VHv.1375 (đời Nguyễn); Tàng thư lâu bạ tịch A.968 (đời Nguyễn); Thành bảo lược sao A.2746 (đời Nguyễn); Trung Kỳ dư địa chí lược sao A.2516 (đời Nguyễn).
Liên quan đến Quảng Ngãi ở cấp xã, có Xã chí Quảng Ngãi AJ.24. Đây là các bản điều tra, khảo sát trên thực địa Quảng Ngãi vào những năm 1943, 1944 theo 11 đề mục cho sẵn: Bia (Stèle); Thần sắc (Brevets de Génie); Thần tích (Légendes écrites); Cổ chỉ (Archives); Tục lệ (Coutumes écrites); Đình (Description du Đình); Tượng và tự khí (Description des objects de culte); Hội (Date des fêtes); Cổ tích (Vestiges antiques); Quan lộ (Route d'accès); Thổ sản và nghề nghiệp (Production et profession des habitants du village). Ngoài ra, còn có cuốn Quảng Ngãi tỉnh tập biên A.3126, sao chép lại các bản thần sắc, sắc phong, chiếu, biểu, câu đối, hoành phi... ở các đền và giấy tờ, công văn của một số xã như Phú Nhơn, Mỹ Khê thuộc phủ Sơn Tịnh cũ; Tiên Sai, Thi Phổ thuộc phủ Tư Nghĩa cũ; Thạch Trụ thuộc phủ Mộ Đức cũ, tỉnh Quảng Ngãi.
Tác giả, tác phẩm
Trước hết là những tác giả, tác phẩm có nguồn gốc từ Quảng Ngãi được chép trong kho sách Hán Nôm:
Bùi Phụ Cát (? - ?): người xã Thu Phố, huyện Chương Nghĩa cũ, tỉnh Quảng Ngãi, một danh sĩ triều Nguyễn. Tác phẩm có Sớ bẩm văn sao VHb.75, gồm 6 bài sớ, trình bày những kiến nghị về đường lối chính sách trị nước.
Nguyễn Bá Nghi (1807 - ?): tự Sư Phần, người xã Lạc Phố, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ Phó bảng năm Minh Mạng 13 (1832), làm Tổng đốc. Tác phẩm có Sư Phần thi văn tập VHv.99.
Nguyễn Tấn (? - ?): tự Tử Vân, hiệu Ôn Khê, người xã Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ Cử nhân năm Thiệu Trị 3 (1843), làm Tham tri kiêm Tĩnh man Tiễu phủ sứ. Tác phẩm có Phủ man tạp lục VHv.1239.
Quốc sư Nghiễm (? - ?): tên là Nghiễm, chưa rõ họ gì, làm Quốc sư, người xã Sung Tích, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tác phẩm có bài văn tứ lục nhan đề Thánh triều hỉ Đường Ngu lạc Thương Chu, hiện in trong Ứng chế tứ lục tuyển A.1456.
Trần Công Hiến (? - 1817): tước Ân Quang Hầu, người huyện Chương Nghĩa cũ, tỉnh Quảng Ngãi, làm Tổng nhung cai cơ, trấn thủ Hải Dương. Tác phẩm được chép trong nhiều sách như Hải Dương phong vật chí A.882; Danh thi hợp tuyển A.212; Danh văn tinh tuyển A.1702; Danh phú hợp tuyển A.2802.1-2, vv. Hiện nay ở thôn Đôn Thư, xã Hậu Bổng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương còn có đền thờ Trần Công Hiến.
Trương Đăng Quế (1793 - 1865): tự Diên Phương, hiệu Đoan Trai, biệt hiệu Quảng Khê, tước Tuy Thịnh Quận công, người xã Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đậu Cử nhân năm Gia Long 18 (1819), làm Phụ chính đại thần. Tác phẩm có Quảng Khê văn tập A.3045; Trương Quảng Khê văn tập VHv.1142; Trương Quảng Khê tiên sinh thi tập A.777; Sứ trình vạn lý tập A.2769; Duyệt Giáp Thìn khoa điện thí văn VHv.78; Phê bình cuốn Diệu Liên thi tập VHv.685; Nhật Bản kiến văn tiểu lục A.1164. Ông còn tham gia chủ trì hoặc biên tập các bộ sách như Đại Nam liệt truyện tiền biên VHv.1320.1-4; Đại Nam thực lục chính biên A.2772.1-67; Hoàng Nguyễn thực lục tiền biên VHv.140; Hoàng Nguyễn thực lục hậu chính biên VHv.141, vv.
Trương Quang Đản (? - ?): tự Tử Minh, hiệu Cúc Khê (hoặc Cúc Viên), người xã Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ Tú tài thời Tự Đức, làm quan đến Đông các Đại học sĩ. Tác phẩm có Trương Cúc Khê thủ chuyết lục VHv.240; Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ, đệ ngũ kỷ A.27.
Vũ Văn Tiêu (? - ?): người Quảng Ngãi, có dâng cho vua Minh Mạng cuốn Cố sự biên lục (theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim).
Nhiều tác giả: Quảng Ngãi tỉnh nữ học trường, gồm một số bài cáo thị, đáp từ và bài ca nhân dịp mở trường Nữ tiểu học ở tỉnh Quảng Ngãi.
Ngoài ra còn có những tác phẩm của người nơi khác viết về Quảng Ngãi từng được kho sách Hán Nôm giới thiệu, như:
Quảng cư ký ngôn, trong sách Nguyễn Hoàng Trung thi sao A.2274, có chép nhiều bài thơ do Nguyễn Hoàng Trung (? - ?), chưa rõ người ở đâu, sáng tác khi ông dạy học ở Quảng Ngãi.
Quảng Nghĩa tỉnh tạ ngự chế thi biểu của Lê Nguyên Trung, người xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương, đỗ Cử nhân năm Thành Thái 18 (1906), hiện chép trong Bi ký biểu văn tạp lục A.1470.
Quá Tư Nghĩa cựu hạt của Đặng Văn Kham (? - ?), chưa rõ người ở đâu, hiện chép trong Hy Trương văn tập A.1276.
Quảng Nghĩa thập vịnh, gồm 10 bài thơ vịnh về phong cảnh ở Quảng Ngãi như Thiên Bút hoành vân, Long Đầu hí thủy, An Hải sa bàn, La Hà thạch trận... của Trần Huy Tích (1828 - ?), biệt hiệu Quán Sơn Cư Sĩ, người phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, nay là vùng phố Mã Mây, Hà Nội, đỗ Tiến sĩ năm Tự Đức 4 (1851), được bổ Đốc học Hải Dương, sau xin từ chức để ngao du đây đó. Các bài thơ trên hiện chép trong Quán Sơn thi thảo A.1216.
Ký đề Quảng Ngãi thắng tích nhị thủ do Nguyễn Miên Trinh (1820 - 1897), tự Khôn Chương, hiệu Tĩnh Phố, biệt hiệu Vi Dã, tước Tuy Quận công, là con thứ 11 của vua Minh Mạng sáng tác, hiện in trong Tuy Quốc công thi tập VHv.35.
Bên cạnh các tư liệu chữ Hán, nguồn tư liệu Pháp ngữ và chữ Quốc ngữ cũng hết sức quan trọng.
Tư liệu Pháp ngữ chủ yếu xuất hiện trong thời Pháp thuộc, gồm các tư liệu do người Pháp biên soạn. Tiêu biểu như:
A.Laborde với Province de Quảng Ngãi (Tỉnh Quảng Ngãi) gồm tư liệu tổng hợp nhiều mặt về tỉnh Quảng Ngãi.
Borel với Notes sur les Norias de la Province de Quảng Ngãi (Ghi chép về các guồng xe nước ở tỉnh Quảng Ngãi), đăng trên tạp chí Kinh tế Đông Dương (B.E.I.C) năm 1906.
P. Guilleminet với Une industrie Annamite: Les Norias du Quảng Ngãi (Một ngành công nghiệp An Nam: Các guồng xe nước ở Quảng Ngãi), 1926.
H. Haguet với bài viết về dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi đăng trên tạp chí Đông Dương 1905; Borier viết về trồng và buôn bán quế ở Trung Bộ; Phó Đức Thành viết về đề tài tương tự (B.E.I.C, 1936), vv.
Đó chỉ mới là một số trong khá nhiều tư liệu Pháp ngữ, kể cả các văn bản hành chính, vẫn còn lưu giữ được.
Về tư liệu Quốc ngữ từ đầu thế kỷ đến nay hết sức phong phú, nhất là các sách, báo xuất bản từ thời Pháp thuộc mãi đến sau 1975, đã được thể hiện khá đầy đủ, cụ thể trong các chương và phần danh mục tài liệu tham khảo ở cuối công trình này, chúng tôi xin khỏi phải nhắc lại.
Nguồn tư liệu điền dã
Một nguồn tư liệu cũng không kém phần quan trọng so với tư liệu thành văn là các tư liệu điền dã. Những người thực hiện công trình này đã chú trọng đúng mức đến các tư liệu điền dã, đã đến các địa phương trong tỉnh để sưu tầm các tư liệu tại chỗ để có dịp bổ sung, phối kiểm, giúp công trình thêm đầy đủ, phù hợp, sát đúng.
Tóm lại, công trình này dùng nhiều tư liệu khác nhau từ hai nguồn thư tịch thành văn và điền dã. Biên soạn một công trình địa chí, thì nguồn tư liệu sẽ có vai trò quan trọng đặc biệt, góp phần quyết định chất lượng công trình.
ĐẶC ĐIỂM SÁCH "ĐỊA CHÍ QUẢNG NGÃI"
Tập sách "Địa chí Quảng Ngãi" do chúng tôi biên soạn có một số điểm đáng chú ý như sau:
Về mặt không gian địa lý, như tiêu đề sách đã xác định, bao gồm những ghi chép liên quan đến vùng đất thuộc địa bàn Quảng Ngãi ngày nay. Vùng đất này qua sự diễn tiến của lịch sử, từng mang các tên gọi khác nhau như "Chiêm Lũy", "Cổ Lũy" (động), "Tư" (châu) và "Nghĩa" (châu), "Tư Nghĩa" (phủ), "Hòa Nghĩa" (phủ), "Quảng Nghĩa" hay "Quảng Ngãi" (phủ, dinh, trấn, tỉnh) như trên kia đã thấy.
Về mặt thời gian và chủ thể địa lý, sách chia lịch sử vùng đất Quảng Ngãi ra làm ba thời đại lớn, tương ứng với ba giai đoạn phát triển chính yếu của xã hội loài người là thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng và thời đại đồ sắt để tiến hành khảo sát. Cụ thể là:
Quảng Ngãi trong thời đại đồ đá: được chứng thực bởi các di vật khảo cổ tìm thấy ở các di chỉ Gò Trá (xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh) và di chỉ Gò Vàng ( xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà), có niên đại cách đây khoảng 14 đến 15 vạn năm.
Quảng Ngãi trong thời đại đồ đồng: được xác nhận qua các di vật khảo cổ tìm thấy ở di chỉ Long Thạnh (xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ), di chỉ Bình Châu I (xã Bình Châu, huyện Bình Sơn) và Bình Châu II (thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn) và di chỉ Sa Huỳnh (đông nam huyện Đức Phổ). Di chỉ Long Thạnh thuộc sơ kỳ đồng thau, có niên đại xác định 1430 ± 60 năm trước Công nguyên, tức cách đây khoảng 3500 năm. Di chỉ Bình Châu thuộc trung kỳ đồng thau, có niên đại cách đây khoảng 3000 năm. Di chỉ Sa Huỳnh xuyên suốt từ sơ kỳ đồng thau đến sơ kỳ sắt sớm và đến thời đại đồ sắt.
Tuy nhiên, do mức độ tư liệu thu thập được, công trình tập trung chính vào thời kỳ lịch sử cổ - trung đại trở về sau, cụ thể với Quảng Ngãi gồm 4 thời kỳ chính như sau:
Quảng Ngãi dưới thời Vương quốc Chămpa (Lâm Ấp - Hoàn Vương - Chiêm Thành), tức từ cuối thế kỷ II đến năm 1471. Thời kỳ này chủ yếu căn cứ vào các di vật - di tích khảo cổ và chủ yếu xét về phương diện văn hóa.
Quảng Ngãi sau khi trở thành một bộ phận của Đại Việt (Việt Nam sau này), từ 1471 cho đến năm 1884 - tức đất Quảng Ngãi nằm dưới chính quyền phong kiến Đại Việt dưới các triều đại khác nhau trong thời kỳ độc lập.
Quảng Ngãi dưới thời Pháp thuộc (1885 - 1945), nói cụ thể là từ khi ách đô hộ của thực dân Pháp đặt đến Quảng Ngãi dưới hình thức chế độ bảo hộ đối với Trung Kỳ đến Cách mạng tháng Tám 1945.
Quảng Ngãi dưới chính thể Dân chủ cộng hòa Việt Nam (1945 - 1975) và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 1975 trở đi), trong đó có khoảng 20 năm do chính quyền Sài Gòn quản lý (1954 - 1975).
Tất nhiên, cách phân đoạn như trên chỉ dùng cho kết cấu chung nhất; trong những trường hợp cụ thể, việc phân đoạn có thể linh hoạt ít nhiều.
Về mặt thể cách, sách không viết theo kiểu một cuốn địa chí cổ hay một tác phẩm địa lý học hiện đại, vì một đằng thì dễ rơi vào tình trạng sơ lược, chung chung, còn một đằng thì đòi hỏi phải chuyên sâu, quy chuẩn, cả hai đều tỏ ra không phù hợp với đối tượng độc giả mà cuốn sách nhắm đến. Để cho người bình thường có thể đọc được, mà các nhà chuyên môn, kể cả những người làm công tác quản lý cũng cảm thấy hữu ích, không thể bỏ qua, chúng tôi dùng cách viết dung hợp kim cổ, chia sẻ những mặt thành công của các sách địa chí xưa và nay. Nếu nói ở "Địa chí Quảng Ngãi" có sự giao hòa giữa địa chí truyền thống và địa lý học hiện đại thì cũng được.
"Địa chí Quảng Ngãi" cũng không trình bày theo kiểu đoạn đại hay đồng đại, vì như vậy, e sách sẽ mất cân đối. Có một thực tế là, trong khi mảng "địa lý tiền sử" (thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng) của Quảng Ngãi hầu như không có tư liệu gì để viết ngoài một số ít di vật do khảo cổ học cung cấp, thì mảng còn lại, tức giai đoạn cư dân Quảng Ngãi từ giã "cuộc sống nguyên thủy" để bước vào "cuộc sống văn minh" (thời đại đồ sắt), văn hiến lại khá dồi dào! Cách viết lịch đại, hay đúng hơn là dung hợp và lịch đại, do vậy đã được chúng tôi lựa chọn để biên soạn sách "Địa chí Quảng Ngãi".